Thanh niên trẻ qua đời sau tai nạn tàu điện ngầm tại Nhật Bản   |    Phạm nhân trại giam Hoàng Tiến được ăn ở lao động như thế nào?   |    Phát huy giá trị di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc gắn với phát triển du lịch   |    Vietcombank chuẩn bị mở chi nhánh ở Chí Linh.   |    Hàng loạt vi phạm trong thu hồi khoáng sản ở trại giam Hoàng Tiến   |    Quốc lộ 37 bị ách tắc do xe bồn nổ lốp đâm xe con   |    Thắng thuyết phục Philippines, Việt Nam tái ngộ Malaysia ở chung kết AFF Cup 2018   |    Thông tin một số hoạt động của Công ty CP Nhiệt điện Phả Lại   |    Khói xưởng gỗ làm khổ người dân   |    Các xã phía đông nam thị xã Chí Linh nỗ lực lên phường   |    Thầy giáo khuyết tật Phạm Văn Sơn đầy nghị lực, tâm huyết với nghề   |    Thị đoàn Chí Linh phối hợp tổ chức chương trình "Đông ấm vùng cao" tại Cao Bằng   |    Thị xã Chí Linh tổ chức khám tuyển nghĩa vụ quân sự năm 2019   |    Xử lý "rắn" vẫn chưa ngăn được "cát tặc"   |    Ngày 23.12: Giải việt dã Báo Hải Dương (mở rộng) lần thứ 27 diễn ra tại Chí Linh   |    Chí Linh giảm nhiều điểm vi phạm hành lang an toàn lưới điện nhất tỉnh   |    Sôi nổi Giải việt dã thị xã Chí Linh   |    Về miền “địa linh nhân kiệt” và khám phá những điểm đến nổi tiếng tại Chí Linh – Hải Dương   |    Đề nghị bỏ phí tham quan khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc như đề nghị của cử trí hiện tại chưa phù hợp   |    Nông dân Chí Linh tích cực hưởng ứng phong trào thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi   |   

Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào?

Chủ nhật - 07/10/2018 20:27 - 306 lượt xem
Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào?
Loạn hậu đáo Côn sơn cảm tác” (sau loạn tới Côn sơn, cảm xúc làm ra) là một trong những bài thơ hay của Nguyễn Trãi, được nhiều người yêu thích. Đề tài “về quê sau biến loạn” vẫn là một đề tài được ưa chuộng từ xưa đến nay. Trong bài có nhiều câu thơ hay:
Trần thổ đê đầu chỉ tự liên
(Cúi đầu trong đám bụi đất [của cuộc đời], chỉ tự thương mình)
hay:
Hà thời kết ốc vân phong hạ
(Bao giờ làm được căn nhà dưới núi có mây che).

Thật không đáng ngạc nhiên khi thấy cho tới nay bài thơ ấy được nhiều người dịch và chú giải. Ta có thể kể: Trúc Khê, Đào Duy Anh, Huy Cận, Lê Cao Phan, Hoàng Khôi, Mai Quốc Liên, Đông Xuyên, Duy Phi, Dương Anh Sơn, Đặng Thế Kiệt … Nhưng có một mâu thuẫn rất đáng chú ý giữa nhan đề của bài thơ và một câu trong bài. Cho tới nay, mâu thuẫn ấy chưa được giải đáp.

Trong tất cả các tổng tập, tuyển tập thơ Nguyễn Trãi, nhan đề bài thơ đều được ghi là “Loạn hậu đáo Côn sơn cảm tác” (sau loạn tới Côn sơn …). Trong một bản chuyển ngữ sang tiếng Anh, Lê Cao Phan cũng dịch, “Back to Côn sơn after the hostilities.” Nhưng với câu thơ thứ 6 trong bài, bản nào cũng chép là, “Can qua vị tức hạnh thân tuyền” (Chiến tranh chưa chấm dứt, may được vẹn tấm thân). Vậy khi Nguyễn Trãi làm ra bài thơ này, cuộc chiến tranh (chống quân Minh) đã chấm dứt hay chưa chấm dứt?

Tất cả các tài liệu hiện có đều không cho biết trường hợp hoặc thời điểm Nguyễn Trãi đã làm ra bài thơ. Trong Nguyễn Trãi toàn tập do Viện Sử Học xuất bản ở Hà Nội năm 1976, học giả Đào Duy Anh cũng chỉ xếp bài này vào nhóm những bài “thơ làm khi chưa thành công.” Để có thể hiểu đúng tâm trạng Nguyễn Trãi trong bài này, thiết nghĩ chúng ta cần tìm tòi và phân tích sâu hơn.

Trước hết, xin được trình bày lại bài thơ, với nguyên tác chữ Hán, phiên âm, và dịch nghĩa.

 

DỊCH NGHĨA

Sau loạn tới Côn sơn, cảm xúc viết

 

Từ giã vùng núi quê nhà vừa đúng mười năm

Nay trở về, tùng cúc phân nửa đã tiêu điều.

Đã hẹn với rừng và suối, sao nỡ phụ

Cúi đầu trong đám bụi đất, chỉ tự thương mình.

Làng quê vừa đi qua như đến trong giấc mộng

Chiến tranh chưa hết, may được vẹn tấm thân.

Bao giờ làm được căn nhà dưới núi có mây che

Múc nước khe suối nấu trà, gối trên đá ngủ.

Đọc lại một số chi tiết do Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cung cấp và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục xác nhận, ta có thể phỏng đoán một cách dè dặt như sau:

Trong hai năm Ất Tỵ 1425 và Bính Ngọ 1426, nghĩa quân Lam sơn thu được nhiều thắng lợi đáng kể. Tháng giêng năm Ất Tỵ, quân ta vây Nghệ An. Tháng 5 năm Ất Tỵ, sau một trận thắng lớn, quân ta vây Tây Đô. Tháng 7 năm Ất Tỵ, ta khôi phục Tân Bình và Thuận Hóa. Tháng 8 năm Bính Ngọ 1426, Bình Định vương và bộ chỉ huy quyết định đem quân ra Bắc, chuẩn bị vây và tấn công Đông Đô (tức Thăng Long, người Minh gọi là Đông Quan). Ba đạo quân cùng tiến. Một đạo lấy lại Sơn Tây, Hưng Hóa … để ngăn ngừa quân Minh sang tiếp viện theo đường Vân Nam. Một đạo khôi phục vùng Hải Dương, Bắc Giang, Lạng Sơn … để phòng chặn quân Minh sang tiếp viện theo đường Quảng Tây qua Lạng Sơn. Đạo chủ lực ra thẳng Đông Đô.

Tháng 10 năm Bính Ngọ, sau một trận thua thật lớn ở Tốt Động (cũng gọi là Tụy Động), quân Minh rút về cố thủ và bị vây trong thành Đông Quan. Bình Định vương chia đất Bắc làm 4 đạo, đặt quan trấn giữ, tuần phòng. Tháng giêng năm sau, Đinh Mùi 1427, quân ta tu bổ đền thờ Hưng Đạo Đại Vương trên núi Vạn Kiếp. Tuy mãi đến tháng 12 năm Đinh Mùi, sau khi hai đạo viện binh của Liễu Thăng và Mộc Thạnh đã bị phá tan, bọn Vương Thông mới chịu ra hàng và rút quân về, nhưng từ tháng 8 năm Bính Ngọ trở đi, tình hình mạn Hải Dương đã tạm ổn định để Nguyễn Trãi có thể ghé qua Côn sơn (cũng trong huyện Chí Linh, không xa núi Vạn Kiếp). Tuy sử không chép rõ, cũng có thể ông được cử đi trong một kỳ hạn rất ngắn để quan sát địa thế và phủ dụ dân chúng vùng Hải Dương, nơi ông lớn lên và thông thạo hơn các võ tướng gốc Lam sơn. Mấy chữ “hương lý tài qua”(làng quê vừa đi qua) và “đáo Côn sơn” (đến Côn sơn) cho thấy Nguyễn Trãi cũng chỉ ghé qua Côn sơn rất nhanh. Bài “Loạn hậu đáo Côn sơn cảm tác” có thể đã được sáng tác trong giai đoạn này (từ tháng 8 năm Bính Ngọ 1426 tới đầu năm Đinh Mùi 1427).

Tuy đang ở thế ưu thắng, quân ta vẫn phải tích cực chuẩn bị để đối phó với các đạo viện binh sắp từ Trung Hoa kéo sang. Nhiệm vụ của Nguyễn Trãi trong cuộc vây Đông Đô cũng rất nặng: ở cạnh Bình Định vương để định kế hoạch, thảo rất nhiều văn thư khuyên dụ Vương Thông ra hàng, vào tận trại giặc ở trong thành cho giặc thấy sự thành tín mà yên tâm rút quân. Khi ông làm bài này, đối với vùng Hải Dương, Côn sơn, hai tiếng “loạn hậu” coi như khá chính xác vì đã do nghĩa quân Lam sơn làm chủ, nhưng can qua vẫn chưa hết (“vị tức”) trong toàn cuộc kháng Minh.

Qua bài thơ, ta thấy được phần nào tâm tư của Nguyễn Trãi. Một bên là niềm xót xa trước cảnh tiêu điều của Côn sơn, nơi ông lớn lên cùng có bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu. Một bên là nỗi buồn thấm thía vì ý thức rõ rằng giữa bụi đất cuộc đời (“trần thổ đê đầu”), ngày được về hưởng cuộc sống yên bình bên núi cũ vẫn còn rất xa. Ước mơ của ông thật đơn giản, đồng thời cũng là ước mơ của bao thế hệ người Việt, hậu bối của ông từ đó tới nay:

Hà thời kết ốc vân phong hạ

Cấp giản phanh trà, chẩm thạch miên.

Nguyễn Trãi gọi Côn sơn là “gia sơn” (núi nhà) vì đó là nơi ẩn dật của ông ngoại ông, Băng Hồ tướng công Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi đã lớn lên dưới sự chăm sóc của ông ngoại trong khu núi này.

DỊCH THƠ

 

Trình bày các bài thơ và minh họa: Ngọc Dung

Trần Từ Mai

© Chí Linh quê tôi: Tin tức của Người Chí Linh
Ghi rõ nguồn "Chí Linh quê tôi" hoặc "http://chilinhquetoi.com" và dẫn đến URL nguồn tin khi phát hành lại thông tin từ website này.
Mọi đóng góp ý kiến, phản hồi xin gửi về email: nguoichilinhhd@gmail.com.
Website đang trong quá trình phát triển và chạy thử nghiệm.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây