Giáo dục thông qua các di sản, một chương trình thiết thực   |    Chí Linh: Va chạm với xe tải, một nạn nhân chết thảm   |    Trường Đại học Sao Đỏ kỷ niệm 35 năm ngày Nhà giáo Việt Nam, chúc mừng Nhà giáo nhân dân và vinh danh tân Tiến sĩ năm 2017   |    Đường vào đền Kiếp Bạc: Dự án “rùa bò”   |    Đại biểu HĐND tỉnh và thị xã Chí Linh tiếp xúc với cử tri phường Phả Lại   |    Thị xã Chí Linh: Gặp mặt kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam 20/11   |    Những điểm đến tâm linh nổi tiếng bậc nhất ở Chí Linh, Hải Dương   |    Lễ giỗ Mẫu - tưởng niệm 729 năm ngày mất của Đức Nguyên Từ Quốc Mẫu - Thiên Thành Thái Trưởng công chúa (1288 - 2017)   |    Trường THPT Chí Linh được Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng bằng khen   |    Chí Linh: Nhiều cán bộ không chuyên trách chưa qua đào tạo   |    Hội thi hiểu biết về pháp luật và công tác ATVSLĐ   |    Học sinh trường THPT Chí Linh giành giải cao nhất "Tự hào Việt Nam" cấp tỉnh   |    Chí Linh, Hải Dương: Dân bỏ ruộng có phải vì ô nhiễm?   |    Trường THPT Phả Lại kỷ niệm 30 năm thành lập   |    Thư chúc mừng kỷ niệm 30 năm thành lập Trường THPT Phả Lại   |    Công nhận thị xã Chí Linh hoàn thành xây dựng nông thôn mới   |    90% số hộ Xã Hoàng Hoa Thám xây dựng mô hình hố rác gia đình   |    Nông dân Chí Linh phấp phỏng nuôi gà Tết   |    Ám ảnh tiếng khóc của dòng sông trong đêm đen   |    Giống cam V2 cho lãi 73 triệu đồng/năm   |   

Lan man chuyện câu đối

Thứ năm - 19/05/2016 20:51 - 684 lượt xem
Lan man chuyện câu đối
Gần đây, cư dân xóm Tôi rộn ràng đối đáp câu đối và xướng họa thơ Đường . Tôi không giỏi về lĩnh vực này nên chỉ tham gia in ít thôi và vẫn thấy mình đối đáp còn ngô nghê, gượng gạo lắm . Tìm đọc câu đối của các bậc tiền nhân, tôi thấy nhiều câu đối rất thú vị. Xin sưu tầm, giới thiệu để những ai yêu thích món này cùng thưởng thức cho vui

Tương truyền rằng, Mạc Đĩnh Chi, người đỗ Trạng nguyên đời vua Trần Anh Tông và sau đó còn được vua Nguyên phong “Lưỡng quốc Trang nguyên” là một người có biệt tài ứng đối. Một lần đi sứ sang Trung quốc, gặp khi mưa to gió lớn nước ngập trắng băng cả một vùng châu thổ sông Hồng. Đoàn sứ thần đến cửa ải muộn, viên quan trấn giữ cửa ải không chịu mở cửa lại muốn thử tài của Mạc Đĩnh Chi bèn ra vế đối: “QUÁ QUAN TRÌ, QUAN QUAN BẾ, NGUYỆN QUÁ KHÁCH QUÁ QUAN”.(Qua cửa ải muộn, cửa ải đóng mời quá khách qua cửa ải). Cái hiểm hóc của vế đối không chỉ bởi việc sử dụng rất nhiều từ đồng âm khác nghĩa mà còn bởi cái cách không mở cửa nhưng vẫn mời quá khách qua cửa. Mạc Đĩnh Chi đã thoát hiểm bằng một vế đối lại không thể tuyệt vời hơn: “ XUẤT ĐỐI DỊ, ĐỐI ĐỐI NAN, THỈNH TIÊN SINH TIÊN ĐỐI”( Ra đối dễ, đối lại khó, mời tiên sinh đối trước). Cái tài trong vế đối này là không chỉ đối lại rất chỉnh mà còn vừa đối lại rồi vừa thách đối. Phục tài ứng đối của Mạc Đĩnh Chi, viên quan trấn ải liền mở cửa để đoàn sứ thần đi qua.

Khi sang yết kiến vua Nguyên, nhà vua cậy thế nước lớn lại muốn áp đảo nước nhỏ và cũng là áp đảo tinh thần sứ giả đã ra đối : “NHẬT HỎA, VÂN YÊN, BẠCH ĐÁN THIÊU TÀN NGỌC THỎ”( Mặt trời là lửa, mây là khói, giữa ban ngày thiêu rụi mặt trăng). Mạc Đĩnh Chi đã ung dung đối lại: “NGUYỆT CUNG, TINH ĐẠN, HOÀNG HÔN XẠ LẠC KIM Ô” ( Mặt trăng là cung, sao là đạn, hoàng hôn bắn rụng mặt trời). Vế đối lại thật tuyệt ! Bởi nó vừa khắc họa thật đúng, thật sống động hiện tượng tự nhiên rất hùng tráng, mỹ lệ, vừa thể hiện khí phách tự tin, cứng cỏi, bất khuất,hào sảng của người đứng đối lại vừa thể hiện tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc khiến vua Nguyên và cả triều thần đều nể phục.

Lại kể chuyện cụ Tam nguyên Yên Đổ, Nguyễn Khuyến, một bậc học rộng tài cao (ba lần đỗ đầu trong các kì thi:thi hương, thi hội, thi đình) rồi ra làm quan dưới triều nhà Nguyễn. Khi thực dân Pháp xâm lược, triều đình nhà Nguyễn bạc nhược đầu hàng, cụ cáo quan về ở ẩn tại quê nhà. Cụ không chỉ là một ông quan thanh liêm giàu tình yêu quê hương đất nước mà còn là một nhà thơ, nhà văn lớn của nước ta. Trong sự nghiệp thơ văn đó, phần câu đối của cụ cũng thật sự tài hoa và kì thú.
Đây là câu đối cụ làm khi cụ bà qua đời:

“NHÀ CHỈN CŨNG NGHÈO THAY, MAY ĐƯỢC BÀ HAY LAM HAY LÀM THẮT LƯNG BÓ QUE,XẮN VÁY QUAI CỒNG, TẤT TƯỞI CHÂN ĐĂM ĐÁ CHÂN CHIÊU VÌ TỚ ĐỠ ĐẦN TRONG MỌI NỖI
BÀ ĐI ĐÂU VỘI MẤY, ĐỂ CHO LÃO VẤT VƠ, VẤT VƯỞNG, BÚI TÓC CỦ HÀNH, BUÔNG QUẦN LÁ TỌA GẬT GÙ TAY ĐŨA CHẠM TAY CHÉN, CÙNG AI KỂ LỂ CHUYỆN TRĂM NĂM”

Câu đối không chỉ hài hòa về thanh điệu ,chỉnh về ngôn từ mà còn giàu tính nghệ thuật và đậm tính nhân văn. Nó gợi rất sinh động hình ảnh một bà à vợ lam lũ, tảo tần, xăm xắn, hay lam hay làm, hết lòng gánh vác mọi việc gia đinh, hết lòng vì chồng,con; Gợi hình ảnh một ông già góa vợ sống lay lắt vật vờ , chông chênh, trống trải, cô đơn, buồn thương đến tội nghiệp. Đó cũng chính là tình yêu thương, lòng tri ân, là tiếng khóc vợ chân tình cảm động vô cùng của cụ.Một ông quan viết câu đối khóc vợ bằng tình yêu thương , niềm trân trọng đến thế trong thời phong kiến thật là hiếm có nếu chưa dám nói là có một không hai.

Đây lại là những câu đối mà cụ Nguyễn Khuyến làm cho bà vợ ông thợ nhuộm khi chồng bà qua đời:

THIẾP TỪ KHI LÁ THẮM SE DUYÊN; KHI VẬN TÍA, LÚC CƠN ĐEN; ĐIỀU DẠI ĐIỀU KHÔN NHỜ BỐ ĐỎ
CHÀNG Ở DƯỚI SUỐI VÀNG NGHĨ CẢNH; VỢ MÁ HỒNG, CON RĂNG TRẮNG, TÍM GAN, TÍM RUỘT VỚI TRỜI XANH

Còn câu đối cho vợ người thợ rèn khóc chồng,cụ lại viết:

NHÀ CỬA ĐỂ LẦM THAN, CON THƠ DẠI LẤY AI RÈN CẶP
CƠ ĐỒ ĐÀNH BỎ BỄ, VỢ TRẺ TRUNG LẮM KẺ ĐE NOI.

Cái tài của các câu đối trên là ở chỗ, cụ Nguyễn Khuyến đã dùng toàn những từ chỉ màu sắc(Thắm,tía, đen điều,đỏ, vàng ,hồng, trắng, tím, xanh) để khóc ông thợ nhuộm và dùng toàn những từ chỉ các vật dụng của nghề rèn:(lầm than, bỏ bễ,rèn cặp, đe noi) để tỏ bày lòng tiếc thương cũng như gợi gia cảnh bác thợ rèn.

Lại được biết, vào năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, lúc đó Chủ tịch Mao Trạch Đông đã rất yếu không thể sang viếng được, ông đã gửi viếng đôi câu đối như sau:

CHÍ KHÍ TRÁNG SƠN HÀ, KIM CỔ ANH HÙNG DUY HỮU NHẤT
MINH TINH QUANG NHẬT NGUYỆT, Á ÂU HÀO KIỆT THỊ VÔ SONG.

Tạm dịch là: Chí khí trùm sông núi, xưa nay, anh hùng(như thế) chỉ có một
Ngôi sao sáng át cả mặt trời, mặt trăng, khắp Á, Âu, hào kiệt( thế này) hẳn không có hai.
Câu đối đã thể hiện sự tôn sùng, ngưỡng mộ dứt mực; sự khẳng định, đánh giá cao của Mao Chủ Tịch với Bác Hồ bằng lời lẽ thật chắc nịch, hình ảnh tráng lệ đăng đối rất chỉnh. Đọc thật thích.!

Ngày nay, thú chơi câu đối không còn thịnh hành như xưa nữa. Tuy nhiên, mỗi dịp tết đến, xuân về, ta vẫn thấy trên các trang báo đều đăng khá nhiều câu đối.Trong đó có nhiều câu khá hay. Mặt khác, trong cuộc sống đời thường chốn dân gian cũng thường lưu truyền khá nhiều câu đối rất thú vị, vừa vui, vừa hóm và nhiều khi còn rất hóc búa và khá sâu sắc nữa. Trong quá trình lưu truyền những câu đối này, giáo giới chúng ta cũng góp phần đáng kể.
Tôi xin dẫn ra đây một vài ví dụ. Một lần , cách đây dăm bảy năm gì đó, một số giáo viên của hai trường THPT Chí Linh và Phả Lại, tụ tập ở nhà tôi. Trong lúc chuyện trò có đề cập đến câu đối. Một thầy giáo người miền trung nói: “Ở quê em, lưu truyền một vế đối NỎ CẦN CHI, CHỈ CẦN NO mà em vẫn chưa đối được. Mời các bác đối xem sao. Mỗi người mỗi vế đối lại. Tôi không nhớ hết. Chỉ nhớ duy nhất một vế đối CÒ KHÔNG TIẾN, TIỀN KHÔNG CÓ. Lại một thầy khác sướng lên: trong vùng Củ Chi có vế đối hiểm lắm CÔ GÁI CỦ CHI, CHỈ CU HỎI CỦ CHI? Mọi người xúm vào đối. Vì ở vùng đất Chí Linh đã có dốc Ba Đèo lại có cả Đèo Trê, nên tôi nhớ được hai vế đối như sau: ÔNG LÃO BA ĐÈO, ĐEO BÀ VƯỢT BA ĐÈO và ÔNG GIÀ ĐÈO TRÊ,TRÈO ĐÊ BẢO ĐÈO TRÊ. Có lẽ vì đối ngay nên những vế đối lại này đều phạm luật bằng trắc. Nhưng lúc đó, rượu đã ngà ngà nên chẳng ai băn bẻ gì. Thầy Ngô Quang Lắm, Hiệu trưởng trường THPT Chí Linh thì kể về một câu đối vẫn được lưu truyền trong ngành :

THÀY GIÁO TRỌNG NGỒI TRÊN CHÕNG ĐỂ QUAN TRỌNG RA NGOÀI
CÔ GIÁO THƯỜNG NẰM GIỮA GIƯỜNG ÚP BÌNH THƯỜNG XUỐNG DƯỚI.

Nghe xong mọi người đều cười ồ thoải mái. Lúc này, thầy Hạm, giáo viên văn trường Phả Lại mới thủ thỉ kể rằng: Hôm vừa rồi, tôi và thầy Hạ, giáo viên toán của trương ra thăm vịnh Hạ Long , tôi tức cảnh ra vế đối thế này, mời các thày đối lại: ME SỪ HẠ XUỐNG VỊNH HẠ LONG THẤY CON RỒNG LỘN HOẢNG HỒN CO CẲNG THƯỢNG. Vì là cuối buổi nên vế đối đó chưa được ai đối lại. Mấy hôm sau, tôi có đối lại là :
MA ĐAM DƯƠNG, LÊN RỪNG BẠCH DƯƠNG GẶP CHÚ VOI CƯỜNG HÍ HỬNG VỚI TAY SỜ. Rất tiếc là tôi và mọi người chẳng bao giờ gặp lại thầy Hạm nữa để mà đọc cho thầy nghe những vế đối của mình. Vì thầy đã đột ngột lìa xa thế giới này bởi một tai nạn giao thông trong một buổi chiều đi dạy về.

Nhìn chung các câu đối lưu truyền trong dân gian thường ngắn gọn, có tính hài hước,dí dỏm rất dễ nhớ. Vế ra thường rất hay, rất hiểm. Có rất nhiều vế đối lại nhưng có lẽ ít có vế đối nào ngang tầm với vế ra. Một đặc điểm nữa của loại câu đối này là thường có yếu tố tục. Nhưng tục mà không thô, tục vẫn thanh và vẫn hướng tới cái nhã, cái đẹp, cái văn hóa. Hoặc chí ít cũng là chỉ những câu như thế mới còn lại và được truyền tụng.

Có thể nói, chơi câu đối là một thú chơi ngôn ngữ rất công phu và cũng vô cùng thú vị. Dẫu là câu đối của các bậc túc nho hay câu đối dân gian; dẫu đối thơ(7 âm tiết trở xuống) hay đối phú( 7 âm tiết trở lên) thì ta thấy nó vẫn rất chuẩn mực về luật đối.Nó không hề dễ dãi nhưng cũng không quá khó đến mức bất khả tri. Chỉ cần ta chịu đọc, chịu học hỏi thì mọi người ai cũng có thể làm được những câu đối đúng luật. Còn có đạt đến độ hay, đến độ xuất sắc không thì dễ chút nào. Điều này đồi hỏi vừa phải chịu khó tìm tòi và lại phải có tài năng ứng đối mẫn tiệp mới đạt được. Rất mong các bạn chúng mình cũng có một phong trào làm câu đối cho vui hè.

Tác giả bài viết: SONG THU

Nguồn tin: http://nguoichilinh.com

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây